Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi): những điểm cần quan tâm

Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi): những điểm cần quan tâm

1. Bối cảnh
Năm 2006, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật số 72/2006/QH11 về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 72) và có hiệu lực kể từ 1/7/2007.
Kể từ khi có Luật số 72, số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm tăng đáng kể, trung bình mỗi năm có hơn 80.000 người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đặc biệt trong 5 năm gần đây, mỗi năm có trên 130.000 người lao động ra nước ngoài làm việc, góp phần đáng kể nâng cao thu nhập, đời sống của người dân, cải thiện chất lượng nguồn lao động thông qua một bộ phận lao động tiếp cận với máy móc và công nghệ tiên tiến, cơ chế quản lý hiện đại, tác phong công nghiệp, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động.
Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập quốc tế và việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới, sự hình thành khối cộng đồng kinh tế ASEAN cho phép tự do di chuyển trong khối ASEAN dẫn đến việc xuất hiện nhiều hình thức hợp tác, dịch chuyển lao động mới trong thời gian gần đây chưa được quy định trong Luật số 72, gây khó khăn trong việc hướng dẫn thi hành Luật và công tác quản lý Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Cùng với đó, qua tổng kết thi hành Luật số 72, một số quy định phát sinh các vướng mắc như: Điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; quy định về tiền môi giới, tiền dịch vụ, tiền ký quỹ của người lao động chưa phản ánh đúng bản chất và xu hướng chung của các tiêu chuẩn lao động quốc tế… Một số quy định của Luật số 72 chưa đáp ứng được các yêu cầu mới về hoạt động người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong bối cảnh kinh tế xã hội và quan hệ quốc tế mới.
Hơn nữa, tác động của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 và vấn đề số hóa đối với lao động di cư đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới một cách căn bản phương thức quản lý hoạt động người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng và quản lý vấn đề di cư, dịch chuyển lao động quốc tế vì mục đích lao động nói chung để phù hợp với những tiến bộ mới về khoa học công nghệ, phát triển việc làm ngoài nước và bảo hộ quyền làm việc của công dân.
2. Những điểm sửa đổi

Chiều ngày 20/4/2020, theo chương trình Phiên họp thứ 44 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi) đã được đưa ra thảo luận.
Sau khi rà soát chỉnh sửa, dự thảo gồm 8 chương và 79 Điều: Giảm 1 điều so với hiện hành; bãi bỏ 7 Điều, bổ sung mới 8 Điều và sửa đổi, bổ sung khoảng 70 điều trong tất cả các chương. Cụ thể:
Chương I. Những quy định chung (07 điều) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, chính sách của Nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các hình thức đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Chương II. Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (37 điều) quy định về doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (24 điều), doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài (3 điều), tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài (3 điều); doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề (5 điều) và đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (2 điều);
Chương III. Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (18 điều) quy định về người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài (6 điều); người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức trực tiếp giao kết hợp đồng lao động (5 điều); bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài (5 điều) và chính sách đối với người lao động sau khi về nước (2 điều);
Chương IV. Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động (05 điều) quy định về mục đích đào tạo bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài và trách nhiệm của người lao động trong việc học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết; chính sách đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và nội dung bồi dưỡng kiến thức cần thiết.
Chương V. Quỹ Hỗ trợ Việc làm ngoài nước (03 điều) quy định về loại hình quỹ; mục tiêu và nhiệm vụ của Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước, nguồn hình thành và nguyên tắc sử dụng Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước;
Chương VI. Quản lý nhà nước về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (04 điều) quy định về nội dung, trách nhiệm quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài, trách nhiệm của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài; thanh tra về hoạt động người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Chương VII. Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm (02 điều);
Chương VIII. Điều khoản thi hành (03 điều) quy định về điều khoản áp dụng đối với doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trước ngày Luật có hiệu lực thi hành, thời điểm Luật có hiệu lực thi hành và trách nhiệm của các cơ quan trong việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.
Theo Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, về cơ bản, dự thảo Luật (sửa đổi) không mở rộng phạm vi điều chỉnh; tuy nhiên dự án Luật đã bổ sung hình thức người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.
Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung đối tượng ký kết các loại hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài là đơn vị sự nghiệp được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao nhiệm vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Dự thảo Luật đã bổ sung các quy định nhằm bảo đảm minh bạch và nâng cao điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành nghề hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; sửa đổi , bổ sung các điều kiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp/cấp đổi/cấp lại/thu hồi giấy phép, về tuyển chọn, đào tạo lao động và chuẩn hóa nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài; bổ sung quy định về chuẩn bị nguồn lao động.
Dự thảo luật cũng đã bổ sung các chính sách của Nhà nước như: chính sách hỗ trợ đối với người lao động là đối tượng chính sách xã hội để học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ cho người lao động đi làm việc ở những nước phát triển và có mức thu nhập cao trong một số ngành nghề, lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật mà trong nước có nhu cầu, phát triển nguồn nhân lực căn cứ theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và nước tiếp nhận người lao động.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng sửa đổi các quy định về chi phí đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài; các quy định về hình thức tổ chức và mở rộng phạm vi hỗ trợ của Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; các quy định liên quan đến quy định về quyền, nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

0 0 vote
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Bài viết liên quan

Người đi xuất khẩu lao động bỏ trốn thì sẽ bị xử lý như thế nào

Vấn đề người lao động đi xuất khẩu lao động bỏ trốn rất nhức nhối với những cơ quan quản lý và đất nước người lao động làm việc, đó cũng là rào cản cho những lao động nghiêm túc và có mong muốn đi xuất khẩu lao động vì đất nước tuyển dụng lao […]

Người Việt đi xuất khẩu lao động thời vụ ở Hàn Quốc có nên hay không

Chương trình đi lao động Hàn Quốc EPS đã có quyết định thực hiện trở lại theo ghi nhớ MOU ký ngày 22/03/2018. Hiện trung tâm lao động ngoài nước vẫn cho đăng ký được bình thường. chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam, sáng ngày 23/3/2018 tại Phủ chủ tịch đã diển ra […]

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x