Chế tài đối với hành vi ở lại nước ngoài trái phép

CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI Ở LẠI NƯỚC NGOÀI TRÁI PHÉP

Trong những năm gần đây, tình trạng người lao động sau khi hết thời hạn theo hợp đồng lao động bỏ trốn để ở lại sinh sống và làm việc diễn ra ngày càng nhiều. Quy định của pháp luật Việt Nam đối với hành vi này như thế nào? Người lao động có ý định đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cần nắm được những quy định này để tự bảo vệ bản thân cũng như tránh được những vấn đề pháp lý liên quan.

Ở lại nước ngoài trái phép là hành vi đã ra nước ngoài bằng con đường hợp pháp và được nước tiếp nhận chấp nhận cho nhập cảnh, tuy nhiên lại tự ý trốn ở lại nước ngoài không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thể hiện qua các hành vi: bỏ trốn ngay sau khi nhập cảnh vào nước tiếp nhận; tự ý bỏ nơi đang làm việc theo hợp đồng lao động để ở lại nước ngoài trái phép; không về nước khi hết thời hạn thị thực…

Trước đây, Điều 274 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định về hành vi ở lại nước ngoài trái phép, theo đó, người nào đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này mà tiếp tục vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 2 tháng đến 3 năm.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Bộ luật Hình sự 2015 đã loại bỏ hành vi ở lại nước ngoài trái phép và không còn xác định hành vi này là hành vi phạm tội nữa. Pháp luật Việt Nam hiện hành còn có một số quy định xử phạt riêng dành cho người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng mà có hành vi ở lại nước ngoài trái phép. Cụ thể, theo quy định tại Nghị định 28/2020/NĐ-CP xử phạt hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội năm 2020 do Chính phủ ban hành ngày 01/3/2020. Nghị định này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/4/2020. Nghị định đưa ra mức phạt tiền từ 80 – 100 triệu đồng đối với hành vi:

– Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động;

– Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng mà không phải do bị cưỡng bức lao động;

– Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng lao động.

Ngoài ra, người lao động còn bị buộc về nước nếu thực hiện các hành vi nói trên. Nghị định này nhấn mạnh, hành vi ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động là hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện và thời hiệu xử phạt sẽ được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Ngoài ra, doanh nghiệp tổ chức cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài thu tiền tuyển chọn của người lao động; thu tiền dịch vụ của người lao động không đúng quy định… bị phạt tiền từ 80 đến 100 triệu đồng.

Thực tế có nhiều trường hợp chưa có những hiểu biết về các hậu quả pháp lý mà họ sẽ phải chịu khi thực hiện hành vi ở lại nước ngoài trái phép. Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cần có những hành động thích hợp hơn trong việc tuyên truyền, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi ở lại nước ngoài trái phép. Bên cạnh việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động với chế tài nghiêm minh thì việc nâng cao ý thức của người lao động về hành vi này cũng hết sức quan trọng. Vì ngoài thiệt hại về kinh tế đối với các công ty xuất khẩu lao động, người lao động thì thiệt hại lớn nhất mà không thể đo lường được là hình ảnh lao động Việt Nam bị xấu đi trong mắt bạn bè quốc tế.

Do vậy, để giải quyết tình trạng người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái phép cần có những quy định rõ ràng, minh bạch về cơ chế, chính sách, danh sách. Theo đó, các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động, thị trường xuất khẩu lao động, số lượng lao động cần tuyển, tiêu chuẩn tuyển lao động, các loại phí, chế độ đào tạo, chế độ lao động và thu nhập của người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài… để mọi người biết, thực hiện và kiểm tra, nhằm tránh tình trạng người đi xuất khẩu lao động bị lừa gạt. Ngoài ra, giải pháp lâu dài mà Nhà nước cần quan tâm là giải quyết việc làm cho người lao động khi họ trở về nước.

0 0 vote
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
;
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x