Bảo hộ công dân (BHCD) làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động – Chính sách hỗ trợ lao động làm việc ở nước ngoài gặp rủi ro

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”(1). Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó”(2). Theo quy định trên, hệ thống các cơ quan chức năng thực hiện công tác BHCD(Bảo Hộ Công Dân) ngày càng được kiện toàn, nâng cao chất lượng và số lượng. Trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện mọi biện pháp cần thiết phù hợp với pháp luật sở tại, luật pháp và thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền và lợi ích của công dân Việt Nam ở nước ngoài được quy định khá rõ. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện) thi hành mọi biện pháp để công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích theo pháp luật nước tiếp nhận, điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế. Khi các quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam bị xâm phạm, cơ quan đại diện có nghĩa vụ thi hành mọi biện pháp để khôi phục những quyền và lợi ích chính đáng đó.

Cùng với cơ chế ưu đãi để khuyến khích lao động ở các huyện nghèo tham gia xuất khẩu lao động (XKLĐ), Chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho những người lao động (NLĐ) gặp rủi ro khi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế, do còn nhiều hạn chế cho nên chính sách này chưa thật sự phát huy hiệu quả.

Theo đánh giá của Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam, lao động Việt Nam, nhất là lao động có tay nghề thấp, người nghèo, người dân tộc thiểu số (DTTS), phụ nữ làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng gặp nhiều rủi ro hơn do thiếu thông tin khi tiếp cận dịch vụ. Bên cạnh đó, NLĐ đi làm việc ở nước ngoài còn có nguy cơ đối diện với những rủi ro đột xuất, có nguyên nhân từ những bất ổn ở nước sở tại hoặc dịch bệnh. Có thể kể hai đợt đưa NLĐ ở Li-bi về nước năm 2011 và 2014 do những bất ổn về chính trị tại quốc gia này khiến hơn 10 nghìn NLĐ Việt Nam tại nước này trong năm 2011 phải về nước trước thời hạn. Đồng nghĩa, những khoản tiền mà NLĐ vay để đi XKLĐ khó có nguồn để trả. Gần đây nhất, trong khủng hoảng do đại dịch Covid-19, theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến hết quý I-2020, có 560 nghìn NLĐ đang làm việc tại 36 quốc gia và vùng lãnh thổ có dịch Covid-19. Đa số họ đều có nguyện vọng ở lại nước sở tại, chỉ có gần năm nghìn người về nước. Cũng như lao động trong nước, NLĐ Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài cũng bị giãn việc, mất việc.

Đối với NLĐ làm việc ở nước ngoài phải về nước vì những rủi ro, Chính phủ quy định sẽ hoàn trả các khoản chi phí tiền môi giới, tiền dịch vụ và hỗ trợ từ nguồn kinh phí Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước, theo Quyết định số 144/2007/QĐ-TTg. Việc thành lập Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động được thành lập theo Quyết định số 163/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm phát triển và mở rộng thị trường lao động ngoài nước, nâng cao chất lượng nguồn lao động, hỗ trợ giải quyết rủi ro cho NLĐ và doanh nghiệp (DN). Quỹ này do DN và NLĐ đóng góp là chủ yếu. Theo đó, khi về nước trước thời hạn vì lý do khách quan, bên môi giới có trách nhiệm hoàn trả lại cho NLĐ một phần tiền môi giới lao động đã nộp theo nguyên tắc: NLĐ làm việc chưa đủ 50% thời gian theo hợp đồng, được nhận lại 50% tiền môi giới đã nộp; NLĐ đã làm việc từ 50% thời gian theo hợp đồng trở lên, sẽ không được nhận lại tiền môi giới. Trường hợp NLĐ không thể đòi được của bên môi giới, DN có trách nhiệm hoàn trả cho NLĐ theo nguyên tắc trên và được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập DN. Cơ chế này phần nào tháo gỡ khó khăn về tài chính cho NLĐ làm việc ở nước ngoài phải về nước trước thời hạn. Tuy nhiên, mức hỗ trợ để đưa NLĐ về nước trong trường hợp gặp rủi ro khách quan hiện nay rất thấp, không đủ chi phí để NLĐ mua vé máy bay về nước. Các chuyên gia lao động công đoàn cho rằng, việc hỗ trợ tối đa năm triệu đồng/vé máy bay cho một người, trích từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước là quá thấp.

Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) từ năm 2007 đến ngày 31-11-2019, kết quả thu của Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước là gần 354,8 tỷ đồng, mới chi 114,2 tỷ đồng hỗ trợ gần 14 nghìn trường hợp NLĐ và DN. Vì vậy, trước những đòi hỏi của thực tiễn, cần xem xét nâng định mức hỗ trợ lao động ở nước ngoài phải về nước vì gặp rủi ro; có cơ chế linh hoạt trong mức chi các hoạt động hỗ trợ kịp thời cho DN và NLĐ, nhất là khi NLĐ gặp rủi ro ở nước ngoài.

5 1 vote
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Bài viết liên quan

HỖ TRỢ LAO ĐỘNG VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI BỊ MẤT VIỆC TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID 19

HỖ TRỢ LAO ĐỘNG VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI BỊ MẤT VIỆC TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID 19

MALAYSIA GẤP RÚT TIÊM VẮC XIN CHO LAO ĐỘNG NHẬP CƯ NƯỚC NGOÀI

Malaysia gấp rút tiêm vắc xin cho lao động nhập cư nước ngoài Trung tâm tiêm chủng trong một trụ sở mới cách Kuala Lumpur khoảng 30 km, gần một khu công nghiệp đông đúc, nơi chứng kiến ​​cụm COVID-19 lớn nhất Malaysia – hàng nghìn ca mắc covid đã xuất hiện  tại nhà sản […]

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x